CÔNG TY TNHH SARAH FARM

Doanh nghiệp lương thực, thực phẩm bước vào cuộc đua giá trị

7
thời gian đọc

Chi phí tăng, tiêu chuẩn siết chặt, buộc doanh nghiệp lương thực, thực phẩm Việt tái cấu trúc, tự chủ nguyên liệu, công nghệ, nâng giá trị sản phẩm, rộng cửa chinh phục thị trường.

Trong những tháng đầu năm, ngành lương thực, thực phẩm vẫn giữ được nhịp tăng trưởng và đang xuất hiện tín hiệu bứt phá. Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay cũng tạo ra nhiều sức ép mới như chi phí sản xuất tăng do biến động giá năng lượng và logistics, trong khi doanh nghiệp lại khó tăng giá bán vì cạnh tranh gay gắt, sức mua vẫn còn hạn chế.

Trong 2 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 7,9% so với cùng kỳ, cho thấy sức cầu vẫn duy trì tích cực. Trong bức tranh chung ấy, nhóm lương thực, thực phẩm tiếp tục giữ vai trò trụ cột. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Hệ quả là biên lợi nhuận bị thu hẹp, buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc, đồng thời thay đổi tư duy phát triển. Mô hình tăng trưởng dựa vào chi phí thấp không còn phù hợp.

Áp lực chi phí ngày càng tăng

Ông Trịnh Bá Cường, Tổng Thư ký Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP.HCM (FFA) cho biết, xung đột ở Trung Đông đang tác động trực tiếp đến giá xăng dầu, logistics và bao bì, kéo chi phí sản xuất tăng mạnh. Dù ngành có lợi thế dự trữ nguyên liệu từ 3 đến 6 tháng, nhưng năng lượng và logistics là những yếu tố không thể “tích trữ”, nên áp lực chi phí ngày càng lớn.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp buộc phải xoay trục từ tiết giảm chi phí đến tái cơ cấu sản xuất và nỗ lực giữ giá. Về dài hạn, trọng tâm là phát triển sản phẩm mới, nâng tỷ lệ chủ động nguyên liệu trong nước và giảm phụ thuộc nhập khẩu.

Theo ông Trịnh Bá Cường, lâu nay điểm nghẽn lớn của ngành vẫn là phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, trong khi Việt Nam có lợi thế rõ rệt về đất đai, vùng trồng, vùng nuôi nhưng chưa đầu tư đủ cho chế biến sâu và công nghệ.

Theo ông Trịnh Bá Cường, 80% nguyên liệu chủ yếu là nguyên phụ liệu như hương liệu, phụ gia, còn Việt Nam vẫn chủ động được khoảng 60 – 70% nguyên liệu chính trong nước. Trong thời gian tới, việc số hóa vùng trồng, vùng nuôi sẽ giúp minh bạch nguồn gốc đầu vào, nâng cao khả năng truy xuất và tạo nền tảng để doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn cung. Song song đó, ngành sẽ phải đẩy mạnh chế biến sâu để nâng giá trị nông sản và giảm lệ thuộc nhập khẩu.

Ở góc độ chuyên gia, PGS.TS Hoàng Kim Anh, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Khoa học và Công nghệ Lương thực – Thực phẩm Việt Nam cho rằng, trước áp lực chi phí nguyên liệu tăng, doanh nghiệp cần tối ưu công thức sản phẩm, giảm sử dụng những nguyên liệu có giá thành cao, thay bằng các thành phần phù hợp hơn nhưng vẫn bảo đảm chất lượng.

Về chiến lược, doanh nghiệp phải chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng giá trị, tập trung phát triển các dòng sản phẩm chất lượng cao, tốt cho sức khỏe, có thể bán với mức giá tốt hơn. Đặc biệt là xu hướng sử dụng nguyên liệu tự nhiên, có nguồn gốc rõ ràng, ít qua xử lý, hạn chế phụ gia tổng hợp và thân thiện với sức khỏe.

Đồng thời, gia tăng sử dụng các thành phần chức năng, tức functional ingredients, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của người tiêu dùng đối với các sản phẩm hỗ trợ tiêu hóa, chống oxy hóa hay góp phần giảm nguy cơ bệnh chuyển hóa.

Trong giai đoạn tới, đổi mới không chỉ nằm ở dây chuyền mà bắt đầu từ nguyên liệu. Hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đối mặt với một “nút thắt” lớn là công nghệ chế biến sâu, đây được xem là một yếu tố then chốt để biến nguyên liệu thô thành các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Theo PGS.TS Hoàng Kim Anh, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ nguồn lực để đầu tư phòng thí nghiệm, nhân lực nghiên cứu hay hạ tầng công nghệ. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu tại trường đại học, viện nghiên cứu lại chưa được thương mại hóa. Khoảng cách giữa nơi tạo ra công nghệ và nơi cần công nghệ vẫn còn khá xa.

Nâng cao năng lực nội tại

Bà Rose Chitanuwat, Giám đốc Chuỗi dự án ASEAN Informa Markets cho rằng, dù người tiêu dùng có xu hướng thắt chặt chi tiêu do tác động từ các thông tin tiêu cực, nhưng ngành thực phẩm vẫn có dư địa tăng trưởng.

“Khi tôi đến Việt Nam, các chuyến bay đều kín chỗ, phần lớn là khách quốc tế. Việt Nam đang trở thành điểm đến thay thế cho du lịch Thái Lan. Dù có biến động, du khách vẫn đến và họ vẫn phải ăn uống. Đây chính là cơ hội lớn cho ngành thực phẩm”, bà Rose Chitanuwat nói và cho rằng, cơ hội luôn đi kèm thách thức.

Theo bà Rose Chitanuwat, vấn đề lớn nhất của Việt Nam là làm thế nào để khối doanh nghiệp nhỏ và vừa – chiếm tỷ trọng lớn có thể đảm bảo an toàn thực phẩm. “Các doanh nghiệp lớn đã có hệ thống kiểm soát, nhưng với các cơ sở nhỏ, việc đáp ứng tiêu chuẩn vẫn là bài toán khó, nhất là khi phục vụ khách du lịch. Nếu không đảm bảo an toàn thực phẩm, niềm tin của người tiêu dùng sẽ bị ảnh hưởng”, bà Rose Chitanuwat cảnh báo.

Ngoài ra, bà Rose Chitanuwat cho rằng, ngành cũng phải đối mặt với yêu cầu mở rộng sang các thị trường mới, như thị trường Hồi giáo hay các thị trường xuất khẩu tiềm năng khác, đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh chóng thích ứng về tiêu chuẩn và sản phẩm.

Lý giải sâu hơn về mối liên hệ giữa chi phí và đổi mới, bà Rose cho rằng, chìa khóa nằm ở giá trị gia tăng. Bà Rose Chitanuwat dẫn ví dụ với gạo và nghệ – hai sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế.

Nếu chỉ xuất khẩu thô với giá khoảng 500 USD/tấn, giá trị rất thấp. Nhưng nếu đầu tư công nghệ, nâng cấp chất lượng hoặc chế biến sâu, giá trị sản phẩm có thể tăng lên đáng kể.

“Nghệ xuất sang châu Âu chỉ có giá vài USD/kg, nhưng khi được chiết xuất thành curcumin, giá có thể lên đến hàng trăm USD. Đó chính là giá trị của chế biến sâu”, bà Rose Chitanuwat phân tích.

Theo bà Rose Chitanuwat, chi phí sản xuất gia tăng không phải câu chuyện riêng của Việt Nam mà là vấn đề toàn cầu.

“Tại Philippines, chi phí năng lượng đã tăng tới 100%. Nhưng dù chi phí tăng, con người vẫn phải ăn mỗi ngày. Vì vậy, doanh nghiệp phải tìm cách thích ứng, duy trì sản xuất và cung ứng thực phẩm phù hợp”, bà Rose Chitanuwat nói và đánh giá, Việt Nam đang có lợi thế rõ rệt về thị trường. Với dân số hơn 100 triệu người cùng lượng khách du lịch quốc tế ngày càng tăng, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm luôn duy trì ở mức cao. Đây là nền tảng quan trọng để ngành tiếp tục phát triển, ngay cả trong bối cảnh nhiều biến động.

Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội, doanh nghiệp Việt cần học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Thái Lan. Theo bà Rose Chitanuwat, Thái Lan thành công nhờ đa dạng hóa thị trường và sản phẩm, không phụ thuộc vào một thị trường duy nhất. Cùng một sản phẩm, họ có thể phân bổ xuất khẩu đến nhiều thị trường khác nhau để tối ưu giá trị.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp Thái Lan rất chú trọng các tiêu chuẩn quốc tế để tiếp cận thị trường cao cấp. Chính phủ Thái Lan cũng hỗ trợ mạnh mẽ doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp mở rộng sản xuất mà không cần đầu tư lớn ngay từ đầu, đồng thời thúc đẩy xúc tiến thương mại và tìm kiếm thị trường.

Một điểm đáng chú ý khác là năng lực xây dựng thương hiệu và bao bì. Theo bà Rose Chitanuwat, đây là yếu tố giúp sản phẩm Thái Lan gia tăng giá trị và dễ dàng chinh phục thị trường quốc tế.

“Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi những kinh nghiệm này. Điều quan trọng là tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với các viện, trường để phát triển sản phẩm mới, đồng thời đầu tư mạnh hơn vào công nghệ, bao bì và thương hiệu. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao, ai làm chủ được giá trị và nguồn lực, người đó sẽ nắm lợi thế”, bà Rose Chitanuwat nhấn mạnh.

Theo Chủ tịch FFA Lý Kim Chi, cơ hội của Việt Nam không chỉ nằm ở thị trường truyền thống, mà còn ở những phân khúc mới như thực phẩm cho khách du lịch Hồi giáo, sản phẩm đạt chuẩn Halal và các thị trường tiềm năng tại ASEAN, Trung Đông, châu Phi, Mỹ Latin hay Ấn Độ.

Khi các FTA tiếp tục mở rộng dư địa xuất khẩu, doanh nghiệp Việt có thêm cơ hội đa dạng hóa thị trường, đồng thời tận dụng thương mại điện tử xuyên biên giới để tiếp cận khách hàng mới.

Theo PGS.TS Hoàng Kim Anh cần có sự kết hợp của “ba nhà”: nhà sản xuất, nhà khoa học và Nhà nước. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng thông qua các chính sách hỗ trợ tài chính, chuyển giao công nghệ, ưu đãi thuế, hỗ trợ tín dụng và phát triển doanh nghiệp khoa học – công nghệ.

Nguyễn Thủy
0Lượt chia sẻ

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *