CÔNG TY TNHH SARAH FARM

Thực phẩm tươi sống sẽ hỏng nếu phải chờ 10 ngày kiểm nghiệm

Nghị định 46 được lùi nhưng đại diện EuroCham vẫn lo sau 15/4, hàng hoá, đặc biệt thực phẩm tươi sống, sẽ hỏng do chờ kiểm nghiệm lâu và ùn tắc tái diễn. Tại hội thảo do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp (VCCI) tổ chức ngày 6/2, ông Nguyễn Hồng Uy, Trưởng nhóm kỹ thuật Tiểu ban Thực phẩm và Dinh dưỡng (EuroCham), cho biết cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao quyết định lùi thực hiện Nghị định 46 đến ngày 15/4. Nghị định 46 được ban hành là văn bản pháp lý quan trọng, góp phần tăng cường quản lý an toàn thực phẩm theo hướng quản lý rủi ro, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, ông cho rằng việc này chỉ gỡ vướng trước mắt, nhiều doanh nghiệp vẫn lo lắng “điều gì sẽ xảy ra sau 70 ngày tới”. Một trong những vướng mắc, lo ngại lớn nhất là Nghị định 46 làm tăng mạnh tần suất và mức độ kiểm tra với hàng nhập khẩu, nhất là thực phẩm tươi sống. “Điều này có thể dẫn tới nguy cơ ùn tắc thông quan sẽ tiếp tục xảy ra sau 15/4”, ông nói, dẫn chứng các mặt hàng như rau quả, thực phẩm tươi sống không thể chờ 9-10 ngày kiểm nghiệm để thông quan, vì “kiểm nghiệm xong thì hàng hỏng hết”. Một vướng mắc khác được đại diện EuroCham chỉ ra là phần lớn các vụ hàng giả, kém chất lượng thời gian qua không xuất phát từ hàng nhập khẩu. Tuy vậy, các quy định mới lại tập trung siết chặt ở khâu này, khiến chi phí và rủi ro của doanh nghiệp tăng cao. Ngoài Nghị định 46, Nghị quyết 66 về đăng ký bản công bố sản phẩm cũng bị phản ánh là phát sinh thêm thủ tục, loại bỏ nhiều phòng kiểm nghiệm quốc tế, hồ sơ phức tạp và chồng chéo. Đại diện EuroCham dẫn ví dụ với sữa công thức cho trẻ em đã có quy chuẩn Việt Nam (QCVN). Theo Nghị định 46, sản phẩm có QCVN sẽ phải công bố quy chuẩn. Nhưng theo Nghị quyết 66, doanh nghiệp vẫn phải đăng ký thực phẩm. Vì vậy, doanh nghiệp sữa có thể phải xin tới hai giấy phép lưu hành do chịu điều chỉnh đồng thời bởi cả hai văn bản này. Cùng quan điểm, đại diện Hiệp hội Thực phẩm minh bạch (AFT) cho rằng Nghị định 46 mở rộng diện kiểm tra nhà nước thiếu chọn lọc, trong khi nhiều yêu cầu khó đáp ứng. Bà dẫn trường hợp hàng nhập khẩu từ Ấn Độ có đủ chứng nhận hữu cơ và lịch sử nhiều năm xuất khẩu vào Việt Nam nhưng vẫn phải xin thêm chứng nhận an toàn thực phẩm, đồng thời lấy mẫu kiểm nghiệm trong nước. Trong khi đó, nhiều phòng kiểm nghiệm chưa có hướng dẫn rõ ràng, các chỉ tiêu theo yêu cầu của Bộ Y tế lại khác với thông lệ quốc tế. Chưa kể, doanh nghiệp sẽ phải có kết quả kiểm tra của cơ quan nước xuất khẩu, nhưng nhiều nước như Ấn Độ không có thủ tục này. Vì vậy, doanh nghiệp gần như không thể đáp ứng, theo bà Minh. Trước những vướng mắc trên, đại diện Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham) kiến nghị cho phép sử dụng các chứng nhận quốc tế như HACCP, ISO 22000, IFS, FSSC 22000… thay cho giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong nước. Đồng thời, họ đề nghị gia hạn thực thi Nghị định 46 đến 1/6 và duy trì cơ chế kiểm tra hiện hành trong giai đoạn chuyển tiếp. Bà Lý Kim Chi, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP HCM, đề nghị Chính phủ sửa Nghị định 46 và Nghị quyết 66, thay vì chỉ điều chỉnh kỹ thuật hoặc tiếp tục gia hạn. Về dài hạn, bà Chi cho rằng nhà điều hành cần ưu tiên sửa Luật An toàn thực phẩm, xây dựng hệ thống nghị định hướng dẫn đồng bộ, ổn định. Bởi theo chuyên gia, khung luật gốc chưa hoàn thiện trong khi các quy định dưới luật liên tục thay đổi sẽ tạo ra nhiều xáo trộn mới cho doanh nghiệp, cơ quan quản lý. Tương tự, đại diện EuroCham cũng nêu vấn đề, Luật An toàn thực phẩm sửa đổi, dự kiến được đưa ra Quốc hội vào kỳ họp tháng 5 tới. Sau đó, các Nghị định hướng dẫn sẽ được ban hành. Như vậy, Nghị định 46 và Nghị quyết 66 chỉ có hiệu lực trong vài tháng sau 15/4. “Chính sách thay đổi nhanh trong thời gian ngắn có thể gây rối loạn lớn với hoạt động kinh doanh”, ông Uy nhìn nhận, kiến nghị nhà điều hành bãi bỏ Nghị định 46, Nghị quyết 66 trong thời gian chờ luật mới. Về việc sửa Luật và các quy định sắp tới, đại diện EuroCham kiến nghị cơ quan quản lý bám sát tinh thần Nghị quyết 68, tập trung vào quản lý rủi ro, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cải cách thủ tục hành chính. “Chỉ nên đưa ra các thủ tục mới khi chứng minh được hiệu quả về cải thiện an toàn thực phẩm và không làm đứt gãy sản xuất, kinh doanh, cũng như được tham vấn đánh giá tác động đầy đủ”, ông nói thêm. Cuối tuần trước, hàng nghìn container hàng hóa bị “tắc” tại cửa khẩu, cảng biển do vướng mắc khi thực hiện Nghị định 46. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại họp báo thường kỳ ngày 5/2, trong 4 ngày (26/1-29/1), trên 700 lô hàng nhập khẩu, tương đương khoảng 300.000 tấn bị

Trung Quốc yêu cầu thư xác nhận với gần 2.600 sản phẩm nông sản

Gia vị, trái cây, trà, cà phê và nhiều nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sẽ phải có thư xác nhận của cơ quan thẩm quyền khi vào Trung Quốc Theo thông báo mới của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC), 2.589 sản phẩm thuộc 20 nhóm nông nghiệp nằm trong diện bắt buộc muốn xuất vào Trung Quốc phải có thư xác nhận và đăng ký doanh nghiệp. Danh mục này bao phủ rộng từ trái cây, rau tươi, trà, cà phê, ngũ cốc, cây giống, dược liệu đến các loại gia vị có nguồn gốc thực vật như ớt khô, hồ tiêu, quế, thảo quả, lá tía tô… Theo nhà chức trách, yêu cầu mới không phải là lệnh hạn chế nhập khẩu, nhưng siết chặt hơn về hồ sơ. Khi làm thủ tục nhập khẩu, doanh nghiệp phải kê khai chính xác mã số đăng ký tại Trung Quốc của nhà sản xuất nước ngoài trên tờ khai hải quan. Nếu một lô hàng có nhiều mặt hàng khác nhau, mã số phải được khai riêng cho từng sản phẩm và từng doanh nghiệp liên quan. Quy định này có hiệu lực từ 15/12/2025. Theo Văn phòng SPS Việt Nam, danh sách sản phẩm được xây dựng dựa trên đánh giá rủi ro kiểm dịch và phù hợp với thông lệ quốc tế. Phía Trung Quốc cũng công bố kênh tra cứu công khai để doanh nghiệp kiểm tra tình trạng đăng ký và thông tin sản phẩm. Với doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là nhóm xuất khẩu gia vị, trái cây tươi và trà, những mặt hàng có tính thời vụ cao, yêu cầu này đồng nghĩa phải rà soát lại toàn bộ mã số đăng ký và hồ sơ pháp lý. Chỉ cần sai hoặc thiếu thông tin khi khai báo, lô hàng có thể bị kéo dài thời gian thông quan, làm tăng chi phí lưu kho và rủi ro chất lượng. Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng nâng chuẩn kiểm dịch và truy xuất nguồn gốc, động thái này được xem là bước tiếp theo trong quá trình chuẩn hóa nhập khẩu. Với doanh nghiệp xuất khẩu, bài toán không còn là bán được hàng hay không, mà là đáp ứng đầy đủ và chính xác từng yêu cầu kỹ thuật ngay từ khâu hồ sơ. Thống kê của Cục Hải quan cho biết, kim ngạch xuất khẩu rau quả cả năm đạt hơn 8,56 tỷ USD, tăng gần 20% so với năm 2024. Riêng thị trường Trung Quốc mang về khoảng 5,5 tỷ USD, chiếm hơn 64% tổng giá trị xuất khẩu và trở thành động lực quyết định cho tăng trưởng chung của toàn ngành. So với năm trước, xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc tăng gần 19%, tương đương hơn 870 triệu USD. Đây là mức tăng cao nhất từ trước đến nay, cả về quy mô tuyệt đối lẫn tỷ trọng đóng góp. Thi Hà

Doanh nghiệp lương thực, thực phẩm bước vào cuộc đua giá trị

Chi phí tăng, tiêu chuẩn siết chặt, buộc doanh nghiệp lương thực, thực phẩm Việt tái cấu trúc, tự chủ nguyên liệu, công nghệ, nâng giá trị sản phẩm, rộng cửa chinh phục thị trường. Trong những tháng đầu năm, ngành lương thực, thực phẩm vẫn giữ được nhịp tăng trưởng và đang xuất hiện tín hiệu bứt phá. Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay cũng tạo ra nhiều sức ép mới như chi phí sản xuất tăng do biến động giá năng lượng và logistics, trong khi doanh nghiệp lại khó tăng giá bán vì cạnh tranh gay gắt, sức mua vẫn còn hạn chế. Hệ quả là biên lợi nhuận bị thu hẹp, buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc, đồng thời thay đổi tư duy phát triển. Mô hình tăng trưởng dựa vào chi phí thấp không còn phù hợp. Áp lực chi phí ngày càng tăng Ông Trịnh Bá Cường, Tổng Thư ký Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP.HCM (FFA) cho biết, xung đột ở Trung Đông đang tác động trực tiếp đến giá xăng dầu, logistics và bao bì, kéo chi phí sản xuất tăng mạnh. Dù ngành có lợi thế dự trữ nguyên liệu từ 3 đến 6 tháng, nhưng năng lượng và logistics là những yếu tố không thể “tích trữ”, nên áp lực chi phí ngày càng lớn. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp buộc phải xoay trục từ tiết giảm chi phí đến tái cơ cấu sản xuất và nỗ lực giữ giá. Về dài hạn, trọng tâm là phát triển sản phẩm mới, nâng tỷ lệ chủ động nguyên liệu trong nước và giảm phụ thuộc nhập khẩu. Theo ông Trịnh Bá Cường, lâu nay điểm nghẽn lớn của ngành vẫn là phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, trong khi Việt Nam có lợi thế rõ rệt về đất đai, vùng trồng, vùng nuôi nhưng chưa đầu tư đủ cho chế biến sâu và công nghệ. Theo ông Trịnh Bá Cường, 80% nguyên liệu chủ yếu là nguyên phụ liệu như hương liệu, phụ gia, còn Việt Nam vẫn chủ động được khoảng 60 – 70% nguyên liệu chính trong nước. Trong thời gian tới, việc số hóa vùng trồng, vùng nuôi sẽ giúp minh bạch nguồn gốc đầu vào, nâng cao khả năng truy xuất và tạo nền tảng để doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn cung. Song song đó, ngành sẽ phải đẩy mạnh chế biến sâu để nâng giá trị nông sản và giảm lệ thuộc nhập khẩu. Ở góc độ chuyên gia, PGS.TS Hoàng Kim Anh, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Khoa học và Công nghệ Lương thực – Thực phẩm Việt Nam cho rằng, trước áp lực chi phí nguyên liệu tăng, doanh nghiệp cần tối ưu công thức sản phẩm, giảm sử dụng những nguyên liệu có giá thành cao, thay bằng các thành phần phù hợp hơn nhưng vẫn bảo đảm chất lượng. Về chiến lược, doanh nghiệp phải chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng giá trị, tập trung phát triển các dòng sản phẩm chất lượng cao, tốt cho sức khỏe, có thể bán với mức giá tốt hơn. Đặc biệt là xu hướng sử dụng nguyên liệu tự nhiên, có nguồn gốc rõ ràng, ít qua xử lý, hạn chế phụ gia tổng hợp và thân thiện với sức khỏe. Đồng thời, gia tăng sử dụng các thành phần chức năng, tức functional ingredients, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của người tiêu dùng đối với các sản phẩm hỗ trợ tiêu hóa, chống oxy hóa hay góp phần giảm nguy cơ bệnh chuyển hóa. Trong giai đoạn tới, đổi mới không chỉ nằm ở dây chuyền mà bắt đầu từ nguyên liệu. Hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đối mặt với một “nút thắt” lớn là công nghệ chế biến sâu, đây được xem là một yếu tố then chốt để biến nguyên liệu thô thành các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Theo PGS.TS Hoàng Kim Anh, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ nguồn lực để đầu tư phòng thí nghiệm, nhân lực nghiên cứu hay hạ tầng công nghệ. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu tại trường đại học, viện nghiên cứu lại chưa được thương mại hóa. Khoảng cách giữa nơi tạo ra công nghệ và nơi cần công nghệ vẫn còn khá xa. Nâng cao năng lực nội tại Bà Rose Chitanuwat, Giám đốc Chuỗi dự án ASEAN Informa Markets cho rằng, dù người tiêu dùng có xu hướng thắt chặt chi tiêu do tác động từ các thông tin tiêu cực, nhưng ngành thực phẩm vẫn có dư địa tăng trưởng. “Khi tôi đến Việt Nam, các chuyến bay đều kín chỗ, phần lớn là khách quốc tế. Việt Nam đang trở thành điểm đến thay thế cho du lịch Thái Lan. Dù có biến động, du khách vẫn đến và họ vẫn phải ăn uống. Đây chính là cơ hội lớn cho ngành thực phẩm”, bà Rose Chitanuwat nói và cho rằng, cơ hội luôn đi kèm thách thức. Theo bà Rose Chitanuwat, vấn đề lớn nhất của Việt Nam là làm thế nào để khối doanh nghiệp nhỏ và vừa – chiếm tỷ trọng lớn có thể đảm bảo an toàn thực phẩm. “Các doanh nghiệp lớn đã có hệ thống kiểm soát, nhưng với các cơ sở nhỏ, việc đáp ứng tiêu chuẩn vẫn là bài toán khó, nhất là khi phục vụ khách du lịch. Nếu không đảm bảo an toàn thực phẩm, niềm tin của người tiêu dùng sẽ bị ảnh hưởng”, bà Rose Chitanuwat cảnh báo. Ngoài ra, bà Rose Chitanuwat cho rằng, ngành cũng phải đối mặt với yêu cầu mở rộng sang các thị trường mới, như thị trường Hồi giáo hay các thị trường xuất khẩu tiềm năng khác, đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh chóng thích ứng về tiêu chuẩn

Chè Lai Châu nâng giá trị thương hiệu

Chè Lai Châu đang từng bước khẳng định chất lượng riêng. Từ lợi thế tự nhiên đến kỹ thuật chế biến, sản phẩm nâng dần giá trị thương hiệu vùng cao. Chỉ dẫn địa lý “Lai Châu” được bảo hộ cho ba dòng sản phẩm gồm chè xanh, chè Ô long và chè Đông phương mỹ nhân. Đây đều là những sản phẩm được chế biến từ nguyên liệu búp chè đạt tiêu chuẩn, chủ yếu từ giống chè shan cổ thụ và Kim Tuyên. Việc xác lập chỉ dẫn địa lý không chỉ giúp nhận diện nguồn gốc, mà còn tạo cơ sở để kiểm soát chất lượng đồng đều. Ông Dương Đình Đức, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lai Châu, cho biết: Việc chè Lai Châu được cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý là bước khẳng định rõ ràng về chất lượng và nguồn gốc sản phẩm. Những đặc tính riêng biệt của chè được hình thành từ điều kiện tự nhiên đặc thù và quy trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ. Đây không chỉ là cơ sở bảo vệ uy tín sản phẩm, mà còn tạo nền tảng để nâng cao giá trị thương hiệu, mở rộng thị trường và hướng tới phát triển bền vững cho ngành chè địa phương. Từ góc độ sản phẩm, chè Lai Châu thể hiện rõ sự khác biệt. Chè xanh có mùi thơm tự nhiên, vị chát dịu, hậu ngọt rõ, hàm lượng axit glutamic đạt từ 5,34 g/100g trở lên. Chè Ô long mang hương hoa, vị thanh, ngọt nhẹ, hàm lượng axit glutamic từ 4,24 g/100g. Trong khi đó, chè Đông phương mỹ nhân có hương mía nướng, mật ong, vị êm dịu, gần như không chát, hàm lượng axit glutamic đạt từ 5,61 g/100g. Những chỉ số này phản ánh chất lượng và tạo nên dấu ấn riêng cho chè Lai Châu trên thị trường. Nền tảng của chất lượng đó đến từ điều kiện tự nhiên đặc thù. Vùng trồng chè shan cổ thụ nằm ở độ cao từ 1.200 đến 2.500m so với mực nước biển, với biên độ nhiệt ngày đêm lớn và lượng mưa trung bình khoảng 2.118 mm/năm. Sự chênh lệch nhiệt độ giúp cây chè tích lũy axit amin, trong khi lượng mưa phù hợp giúp búp chè non, giàu dinh dưỡng. Đối với giống chè Kim Tuyên, vùng trồng ở độ cao từ 900 đến 1.300m, có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển các dòng chè chất lượng cao như Ô long và Đông phương mỹ nhân. Các yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa góp phần hình thành cấu trúc lá và hương vị đặc trưng. Bên cạnh yếu tố tự nhiên, quy trình sản xuất cũng đóng vai trò quan trọng. Việc lựa chọn nguyên liệu theo tiêu chuẩn búp chè, cùng với kỹ thuật chế biến phù hợp cho từng dòng sản phẩm, giúp giữ được hương vị đặc trưng và nâng cao chất lượng. Đây là yếu tố then chốt để sản phẩm chè Lai Châu duy trì sự ổn định khi tham gia thị trường. Từ thực tế cho thấy, chỉ dẫn địa lý không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn là công cụ phát triển kinh tế. Khi sản phẩm được định danh rõ ràng, giá trị thương hiệu được nâng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho tiêu thụ và mở rộng thị trường. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để bảo vệ quyền lợi của người sản xuất, tránh tình trạng trà trộn sản phẩm không rõ nguồn gốc. Tuy nhiên, để phát huy hết giá trị của chỉ dẫn địa lý, yêu cầu đặt ra là duy trì chất lượng đồng đều và tăng cường liên kết sản xuất. Việc tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, kiểm soát quy trình và nâng cao nhận thức của người dân là yếu tố quan trọng. Trong bối cảnh đó, chè Lai Châu đang có cơ hội rõ rệt để nâng tầm thương hiệu. Khi lợi thế tự nhiên được kết hợp với quản lý chất lượng và xây dựng thương hiệu bài bản, sản phẩm không chỉ dừng lại ở đặc sản địa phương, mà có thể vươn ra thị trường rộng hơn. Từ nền tảng đã có, việc phát triển chè theo hướng bền vững, gắn với giá trị vùng cao sẽ là hướng đi phù hợp. Đây không chỉ là câu chuyện của một sản phẩm, mà còn là cách để nâng cao thu nhập, ổn định sinh kế cho người dân, đồng thời khẳng định vị thế nông sản Lai Châu trên thị trường. Hoàng Châu